Vì sao Mỹ rút khỏi Hiệp định Paris?

Tổng thống Mỹ Donald Trump cầm chiếc biển ghi “Trump đào than đá” trong một buổi gặp mặt cử tri. (Nguồn: Getty)

Vì sao Mỹ rút khỏi Hiệp định Paris?

Chính quyền Tổng thống Donald Trump đã chính thức thông báo tới Liên hợp quốc (LHQ) rằng Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu. Động thái này khiến cả thế giới phải tìm ra bước đi mới để bảo vệ môi trường sống mà không có sự hợp tác của nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Sau hai năm kể từ khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố Mỹ sẽ rút khỏi Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu, ngày 4/11, Washington thông báo khởi động quá trình rút khỏi Hiệp định được đàm phán dưới thời cựu Tổng thống Barack Obama. Theo đó, Mỹ sẽ hoàn tất quá trình rút khỏi Hiệp định Paris trước ngày 4/11/2020.

Mỹ, nước phát thải khí nhà kính lớn nhất thế giới về lịch sử, sẽ trở thành quốc gia duy nhất đứng ngoài Hiệp định. Với quyết định này, Tổng thống Trump hứa sẽ thúc đẩy các ngành công nghiệp dầu khí và than của Mỹ.

Kể từ khi nhậm chức, ông Trump với tôn chỉ “đưa nước Mỹ vĩ đại trở lại” và chính sách “Nước Mỹ trên hết” đã gạch bỏ đi khá nhiều di sản của người tiền nhiệm Obama, từ môi trường đến tự do thương mại và Hiệp định Paris là một trong số đó. Trước đây, chính quyền Obama đã đưa Mỹ tham gia vào hiệp ước hồi năm 2015, hứa hẹn đến năm 2030 sẽ cắt giảm 26-28% lượng khí thải nhà kính của Mỹ so với mức năm 2005.

Hiệp định Paris là gì?

Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu là cam kết toàn cầu đầu tiên về khí hậu, được đàm phán trong Hội nghị lần thứ 21 của các Bên của Công ước Khung của LHQ về biến đổi khí hậu ở Paris (COP21). Hiệp định được 197 quốc gia ký kết ngày 12/12/2015, 185 nước thông qua và chính thức có hiệu lực ngày 4/11/2016.

Về cơ bản, các quốc gia ký kết Hiệp định đều nhất trí cắt giảm lượng khí CO2 và khí thải khác từ đốt nhiên liệu hóa thạch, nhằm kiềm chế mức tăng nhiệt độ toàn cầu. Theo đó, các quốc gia thành viên COP21 đã nhất trí hạn chế mức tăng nhiệt độ Trái Đất không quá 2 độ C so với thời kỳ tiền Cách mạng công nghiệp và cố gắng đưa con số này về mức 1,5 độ C. Nếu không, các nhà khoa học cảnh báo, Trái Đất sẽ tiến đến ngưỡng thảm họa mà không thể xoay chuyển được. Để đạt mục tiêu này, các nhà khoa học khuyến cáo, thế giới cần cắt giảm đến một nửa lượng khí thải carbon vào năm 2030.

Ngoài ra, thỏa thuận này cũng đặt ra mục tiêu các nước phát triển đóng góp ngân quỹ tối thiểu 100 tỷ USD mỗi năm để giúp các nước đang phát triển chuyển đổi từ năng lượng hóa thạch sang các dạng năng lượng tái sinh ít phải thải hơn, cũng như tăng cường khả năng ứng phó với thảm họa thiên nhiên do biến đổi khí hậu gây ra, như hạn hán hay lũ lụt.

Về tính minh bạch, thỏa thuận quy định các quốc gia phải báo cáo về tiến trình thực thi cam kết, song không có hình thức chế tài đối với các quốc gia chưa hoàn thành mục tiêu về cắt giảm khí thải.

Tổng thống Mỹ Donald Trump cầm chiếc biển ghi “Trump đào than đá” trong một buổi gặp mặt cử tri. (Nguồn: Getty)
Tổng thống Mỹ Donald Trump cầm chiếc biển ghi “Trump đào than đá” trong một buổi gặp mặt cử tri. (Nguồn: Getty)

Cái lý của Mỹ…

Tổng thống Trump được coi là một người hoài nghi về biến đổi khí hậu, từng bác bỏ quan điểm cho rằng khí nhà kính do con người gây ra khiến Trái Đất ấm lên nhanh chóng và kích hoạt các hiện tượng thời tiết cực đoan. Ông thậm chí bác bỏ cả nỗ lực quốc tế nhằm giảm thiểu khí nhà kính, gọi đây là trò lừa bịp do Trung Quốc tạo ra nhằm làm tê liệt ngành công nghiệp Mỹ.

Hồi năm 2017, phát biểu tại một buổi lễ ở Vườn Hồng của Nhà Trắng, nhà lãnh đạo Mỹ chỉ trích Hiệp định Paris là gánh nặng về tài chính và kinh tế, khiến nhiều người mất việc làm, gây xói mòn chủ quyền quốc gia và đặt Washington vào thế bất lợi so với các nước khác, nhất là trong ngành công nghiệp than đá. Ông còn khẳng định quyết định rút khỏi Hiệp định này “tượng trưng cho sự tái khẳng định chủ quyền Mỹ”.

Đối với Tổng thống Trump, dường như Hiệp định Paris chẳng khác gì ngoài cam kết ép Mỹ phải chi thêm 100 tỷ USD viện trợ nước ngoài cho phần còn lại của thế giới, chống phá và làm suy yếu nến kinh tế của nước này.

Trong khi đó, Mỹ luôn tự tin rằng mình là quốc gia đi đầu trong việc chống biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Ngày 4/11, Ngoại trưởng Mike Pompeo đăng lên Twitter rằng “Mỹ tự hào về thành tích đứng đầu thế giới trong việc cắt giảm tất cả các loại khí thải, nuôi dưỡng khả năng bền bỉ, tăng trưởng kinh tế và đảm bảo năng lượng cho công dân của chúng ta”.

Ông Pompeo cũng khẳng định rằng Mỹ có cách tiếp cận thực tế khi sử dụng hỗn hợp tất cả các loại năng lượng một cách sạch sẽ và hiệu quả nhất, trong đó có cả nhiên liệu hóa thạch, năng lượng hạt nhân và năng lượng tái tạo.

… và thực tế đáng lo ngại

Hiệp định Paris được coi là một cam kết đòi hỏi các quốc gia thành viên phải đưa ra những hành động thiết thực và có những con số tích cực vì sự sống còn của Trái đất. Tuy nhiên, các nước ký kết đang đối mặt với bài toán khó để thực hiện cam kết đưa ra mà vốn là “vấn đề lương tâm” hơn là pháp lý.

Theo báo cáo của UEF, EU, chiếm 9% lượng phát thải là “có hành động quyết liệt đối phó với biến đổi khí hậu”. EU dự kiến sẽ cắt giảm đến 58% lượng phát thải của họ cho đến năm 2030 so với mức năm 1990 mặc dù cam kết đưa ra trong Thỏa thuận Paris chỉ là “cắt ít nhất 40%”.

Đầu tháng 11 vừa qua, tổ chức Quỹ Sinh thái Toàn cầu (UEF) đã công bố báo cáo Sự thật đằng sau các cam kết khí hậu cho thấy phần lớn quốc gia tham gia Hiệp định Paris đều không thực hiện cắt giảm khí thải đúng như cam kết.

Các nhà nghiên cứu chỉ ra rằng có gần ba phần tư quốc gia cam kết trong Hiệp định Paris “không đủ để làm chậm lại biến đổi khí hậu” và “một số nước phát thải lớn nhất vẫn sẽ tiếp tục phát thải”. Trong đó, hơn nửa lượng khí thải nhà kính xuất phát từ Trung Quốc (26,8%), Mỹ (13,1%), Ấn Độ (7%) và Nga (4,6%).

Mặc dù Ấn Độ và Trung Quốc đều đưa ra cam kết giảm cường độ phát thải carbon trên mỗi đơn vị GDP cho đến năm 2030 và khẳng định có thể thực hiện được cam kết này. Thế nhưng, lượng khí carbon của cả hai nước đều tiếp tục tăng trong 10 năm tới do nhu cầu phát triển kinh tế. Ấn Độ trong kỳ họp COP 21 (2015) ký Hiệp định Paris nhưng lưu ý thế giới về tình trạng của đất nước họ, bao gồm khả năng tài chính, quy mô dân số và nhu cầu phát triển thì tại một quốc gia mà hàng trăm triệu người vẫn chưa có điện nước thì chống biến đổi khí hậu là vấn đề xa xỉ.

Còn cam kết của tất cả các nước còn lại, vốn chiếm 32,5% lượng phát thải toàn cầu thì lại cần có sự hỗ trợ kỹ thuật và ngân quỹ 100 tỷ USD hàng năm từ các nước phát triển, trong khi Mỹ và Australia đều đã ngưng đóng góp cho quỹ này. Mức độ cắt giảm phát thải mà các nước khác nhau cam kết không giống nhau do “các nước không có trách nhiệm như nhau về biến đổi khí hậu” xét trên quá trình phát thải tích lũy trong lịch sử, tỷ lệ phát thải trên đầu người và nhu cầu phát triển.

Cuộc chiến chống biến đổi khí hậu vô cùng phức tạp, đòi hỏi từ ngân sách cho đến công nghệ, điều kiện kinh tế-xã hội và nhu cầu phát triển. Do đó, chỉ có quốc gia đã phát triển như Mỹ và EU có thể giải quyết từng phần chứ những quốc gia đang phát triển khó lòng mà tự giải quyết được.

Sự rút lui của Mỹ có thể xem như một “bước lùi” đối với chính Washington bởi nước này từng giữ vai trò đầu tàu trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Bước đi của Mỹ khiến cho toàn bộ thế giới lúng túng, khi giải pháp bảo vệ Trái Đất không có sự hậu thuẫn của nền kinh tế lớn nhất thế giới.

Hơn bao giờ hết, vấn đề cấp thiết đặt ra là các quốc gia trên thế giới cần thể hiện hơn nữa vai trò trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu để có thể đảm bảo cho tương lai vốn đang bấp bênh của Hiệp định Paris.

Dù có muốn, nhưng Mỹ không được phép rút ra khỏi Hiệp định Paris ngay lập tức. Theo các điều khoản của Hiệp định, tiến trình rút khỏi thỏa thuận toàn cầu này sẽ kéo dài một năm. Điều này đồng nghĩa với việc Mỹ sẽ không còn là thành viên của Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu vào ngày 4/11/2020 – một ngày sau ngày bầu cử Tổng thống.

Đến khi đó, người ta mới biết chắc chắn được liệu Mỹ có tiếp tục cam kết chung với thế giới để chống lại biến đổi khí hậu hay không. Bởi ngược lại với việc rút ra, quá trình xin gia nhập lại Hiệp định chỉ diễn ra trong vòng 30 ngày với hai bức thư, một gửi tới Tổng Thư ký LHQ và một để thông báo tới Hiệp định, biến ngày 19/2/2021 là ngày sớm nhất mà Mỹ có thể trở lại làm một thành viên của Hiệp định.

Lính cứu hỏa tự nguyện Australia đối phó với ngọn lửa ở ngoại ô thành phố Bilpin, New South Wales. (Nguồn: Getty)

Thảm họa cháy rừng Australia: Điều tồi tệ nhất còn chưa đến

Các vụ cháy rừng đã biến phần lớn bang New South Wales và Victoria của Australia trở thành vùng đất chết và khiến hàng nghìn người phải di tản. Nhiệt độ cao kỷ lục cùng với thời tiết khô hạn nghiêm trọng kéo dài do biến đổi khí hậu đã gây ra những biển lửa, khiến quang cảnh nhiều nơi ở Australia trông không khác gì “ngày tận thế”.

Lính cứu hỏa tự nguyện Australia đối phó với ngọn lửa ở ngoại ô thành phố Bilpin, New South Wales. (Nguồn: Getty)
Lính cứu hỏa tự nguyện Australia đối phó với ngọn lửa ở ngoại ô thành phố Bilpin, New South Wales. (Nguồn: Getty)

Cháy rừng không phải là chuyện lạ ở Australia. Hằng năm, cứ đến mùa hè với thời tiết hanh khô và nhiệt độ cao, các đám cháy rừng vẫn thường xuyên xuất hiện, đến mức người dân ở đây còn gọi mùa hè là “mùa cháy rừng”. Thường thì các đám cháy rừng này luôn dừng lại ở mức có thể kiểm soát được.

Thế nhưng, câu chuyện năm nay thì hoàn toàn khác. Từ tháng 9/2019, hàng chục các vụ cháy rừng đã bắt đầu bùng phát ở bang New South Wales (NSW) và phát triển tệ đến mức, chính phủ Australia phải ban bố tình trạng khẩn cấp vào tháng 11 vừa qua. Các vụ cháy nhanh chóng lan rộng trên toàn bộ lãnh thổ Australia, khiến việc chữa cháy gặp rất nhiều khó khăn.

Sức tàn phá kinh hoàng

Theo trang News.com.au, tính từ đầu mùa cháy rừng 2019 đến nay, tổng cộng khoảng 10 triệu ha rừng đã bị “bà hỏa” phá hủy và hầu hết các bang đều bị ảnh hưởng, ngoại trừ khu vực Lãnh thổ Thủ đô. Để so sánh, con số này còn gấp đôi diện tích lãnh thổ Bỉ. Ngoài ra, NSW và Victoria là hai bang chịu ảnh hưởng cháy rừng nghiêm trọng nhất. Chỉ riêng bang NSW, gần 5 triệu ha rừng đã bị thiêu rụi, lớn hơn tổng diện tích Hà Lan.

Có thể nói, đây là thảm họa cháy rừng tồi tệ nhất không chỉ riêng trong lịch sử Australia, mà còn trên cả thế giới nhiều năm qua. Vụ cháy rừng Amazon hồi tháng 8/2019, khiến cả thế giới bàng hoàng, chỉ tước đi khoảng 900.000 ha rừng. Cháy rừng ở bang California (Mỹ) năm 2018 thiêu rụi khoảng 800.000 ha.

Các đám cháy đã thiêu rụi hơn 56.000 km2 đất, khiến hàng chục nghìn người phải sơ tán và ảnh hưởng xấu đến môi trường. Đến nay, những vụ cháy đã khiến hơn 20 người thiệt mạng và hơn 1.500 ngôi nhà bị phá hủy. Đầu năm 2020, có thêm 28 người nữa được xác nhận đang mất tích khi đám cháy lan đến các trung tâm du lịch sầm uất phía đông Victoria. Hội đồng Bảo hiểm Australia ngày 6/1 khẳng định thiệt hại do hỏa hoạn gây ra đã vượt mốc 485 triệu USD.

Tại các thành phố lớn như Canberra, Melbourne và Sydney bị bao trùm bởi những đám khói màu đỏ cam dày đặc và lây lan sang các khu vực lân cận như New Zealand, dấy lên một thảm họa ô nhiễm môi trường khác. Ngày 1/1 vừa qua, Thủ đô Canberra ghi nhận tình trạng ô nhiễm tồi tệ nhất lịch sử, với chỉ số chất lượng không khí cao gấp 23 lần so với mức nguy hiểm tới sức khỏe con người.

Hỏa hoạn diễn ra trên khắp sáu bang thuộc Australia và bang NSW phải chịu tổn thất lớn nhất về mặt sinh thái. Theo số liệu của Đại học Sydney, chỉ riêng tại NSW, gần nửa tỷ sinh vật, bao gồm các loài động vật có vú, chim và bò sát có khả năng bị thiêu chết. Trong đó, khoảng 8.000 chú gấu túi koala, chiếm khoảng một phần ba tổng số lượng cá thể trên lãnh thổ Australia và đáng buồn hơn, khoảng 30% tổng diện tích sống của chúng đã bị xóa sổ.

Theo truyền thông Australia, số lượng động vật bị chết cháy còn có thể tăng lên trong thời gian tới, bởi dẫu thoát khỏi đám cháy nhưng chúng có thể chết do bị đói, khát hoặc sốc nhiệt khi bị mất đi môi trường sống. Điều khiến giới chuyên gia lo ngại là cháy rừng có thể làm sụt giảm tới mức khó hồi phục số lượng loài động vật chỉ có ở Australia và đang có nguy cơ tuyệt chủng, chẳng hạn như gấu túi.

Anh Simon Adamczyk, nhân viên cứu hộ động vật hoang dã ở thành phố Adelaide, bang Nam Australia bế một chú gấu túi trong khu vực bị cháy trụi gần Cape Borda trên đảo Kangaroo, phía tây bắc Adelaide, ngày 7/1.
Anh Simon Adamczyk, nhân viên cứu hộ động vật hoang dã ở thành phố Adelaide, bang Nam Australia bế một chú gấu túi trong khu vực bị cháy trụi gần Cape Borda trên đảo Kangaroo, phía tây bắc Adelaide, ngày 7/1.

Nguyên nhân do đâu?

Như đã nói ở trên, cháy rừng không phải chuyện lạ ở Australia. Do vào mùa hè, thời tiết tại đây luôn trong tình trạng nóng và khô, tương tự như ở California và Địa Trung Hải. Tuy nhiên, các đám cháy của mùa hè năm nay khá khác biệt, chúng đến sớm hơn nhiều so với mọi năm. Phó Giáo sư Crystal Kolden, Đại học Idaho (Mỹ), người trực tiếp nghiên cứu về vụ cháy rừng ở Tasmania năm 2018 nhận định rằng, nguyên nhân chính dẫn đến thảm họa cháy rừng lần này là ảnh hưởng của việc Trái Đất đang ngày một nóng lên.

Nhiệt độ cao kỷ lục, hạn hán kéo dài cùng với sức gió lớn đã khiến hỏa hoạn ở Australia lan rộng không kiểm soát. Giữa tháng 12 năm ngoái, cư dân một số vùng xứ chuột túi đã trải qua một ngày khủng khiếp khi thủy ngân nhiệt kế chạm đến con số 41,9°C. Làn sóng nhiệt vẫn tiếp tục vờn quanh miền đông nam, nhiệt độ ở Canberra dự kiến sẽ lên đến 40,6°C trong tuần này.

Rừng bạch đàn vốn phổ biến ở Australia với tinh dầu trong thân cây rất dễ cháy, khi bị bắt lửa loài cây này khiến hỏa hoạn lan nhanh hơn. Chúng còn phụ thuộc vào lửa để có thể giải phóng hạt giống để sinh sôi nảy nở. Do đó, một số hệ sinh thái như rừng bạch đàn nhiều khả năng sẽ có thể khôi phục nhưng không phải loại cây nào cũng có khả năng như chúng.

Theo ông Mike Flannigan, nhà khoa học về cháy tại Đại học Alberta (Canada), vẫn là quá sớm để biết chính xác nguyên nhân làm phát sinh các đám cháy rừng, bởi cháy rừng chỉ mới bùng phát gần đây và hiện mọi cơ quan chức năng vẫn đang ưu tiên dành thời gian kiểm soát các đám cháy.

Dù con người là nhân tố lớn gây hỏa hoạn ở Australia, song những nguyên nhân do tai nạn cũng thường xảy ra như các vụ chập, cháy từ xe cộ hay dây điện. Mặc dù các đầu mẩu thuốc lá còn lại sau khi hút thường không gây hỏa hoạn, song trong điều kiện thời tiết khô nóng, chuyện này hoàn toàn có thể xảy ra. Ngoài ra, sét đánh vào các khu rừng bị hạn hán cũng có thể là nguyên nhân gây hỏa hoạn.

Tình trạng trên đã phản ánh sự yếu kém của nước này trong trong công tác giảm lượng khí thải carbon dioxide. Chính quyền của Thủ tướng Scott Morrison đang đối mặt với chỉ trích vì cản trở nỗ lực toàn cầu trong việc hoàn thành một quy tắc thực thi Thỏa thuận Paris trong một hội nghị của Liên hợp quốc tại Madrid vào tháng 12. Bản thân ông Morrison cũng bị phản ứng dữ dội khi ông đi nghỉ ở Hawaii trong lúc ngọn lửa đang tàn phá đất nước, dù cuối cùng ông đã phải cắt ngắn kỳ nghỉ.

Ngay cả khi thực sự muốn “chuyển mình” về chính sách năng lượng và biến đổi khí hậu, Australia cũng sẽ vấp phải tranh cãi gay gắt trong nội bộ chính phủ, một phần do truyền thống khai thác mỏ và sản xuất than nổi danh bao lâu nay.

Oằn mình chống “giặc”

Thủ tướng Australia Scott Morrison thăm Sarsfield, một thị trấn bị ảnh hưởng bởi vụ cháy, ngày 4/1. (Nguồn: NYT)
Thủ tướng Australia Scott Morrison thăm Sarsfield, một thị trấn bị ảnh hưởng bởi vụ cháy, ngày 4/1. (Nguồn: NYT)

Thủ tướng Scott Morrison hôm 6/1 tuyên bố sẵn sàng trả “bất cứ giá nào” để giúp cộng đồng hồi phục sau trận cháy kinh hoàng. Chính phủ nước này sẽ rót thêm 1,4 tỷ USD trong hai năm để khắc phục hậu quả.

Australia phụ thuộc rất nhiều vào các nhân viên cứu hỏa tình nguyện, đặc biệt là ở vùng nông thôn nơi có nhiều đám cháy nhất. Lý do là nước này không có một hệ thống quản lý cứu hỏa chuyên nghiệp và tập trung như Mỹ.

Điều này buộc chính phủ Australia phải có những thay đổi về chính sách. Theo đó, tháng 12, Thủ tướng Morrison tuyên bố rằng, các tình nguyện viên bỏ việc để đi chữa cháy sẽ được bồi thường tiền lương. Trung bình, mỗi ngày có khoảng 3.000 người lính “tự phát” lên đường cứu hỏa ở khắp nơi trên tiểu bang.

Để tăng lực lượng dập lửa ở các địa phương, quân đội Australia đã điều thêm 3.000 binh lính đến các vụ cháy để dập lửa. Đồng thời, Mỹ và Canada cử lính cứu hỏa đến Australia để hỗ trợ.

Theo The Verge, các chuyên gia cho rằng, trong điều kiện khắc nghiệt và diện tích đám cháy quá lớn, sức người khó có thể dập tắt hoàn toàn, nên chỉ có thể chờ cho ngọn lửa tự tàn đi mà thôi.

Mùa hè ở Australia kéo dài từ tháng 12 đến hết tháng 2 và mùa cháy rừng thường phát triển cực đại vào cuối tháng 1 hoặc đầu tháng 2. Vậy nên thảm họa được dự đoán sẽ khó sớm chấm dứt. Mặc dù mới đây, khu vực bờ biển đông Australia, từ Sydney đến Melbourne, đã xuất hiện những trận mưa lớn. Các trận mưa xối xả cũng xuất hiện ở một số vùng của bang NSW.

Thế nhưng, giới chuyên gia nhận định rằng, nếu các đám cháy ở NSW gặp các đám cháy ở bang Victoria sẽ tạo nên “một ngọn lửa khổng lồ”, khiến tình trạng cháy rừng còn có thể diễn ra tồi tệ hơn bây giờ. Hiện tại, chúng chỉ còn cách nhau khoảng 9 km trong khi nhiệt độ dự kiến tăng trở lại vào ngày 9-10/1.

Hầu hết các vụ cháy lịch sử ở Australia được đặt tên theo ngày xảy ra và đáng nhớ bởi một số yếu tố như mức độ tàn phá và số người chết. Riêng vụ cháy năm 1974 khiến 117 triệu ha rừng bị thiêu rụi thì không được đặt tên do chúng xảy ra ở trung tâm Australia và không gây ảnh hưởng quá nhiều tới cộng đồng, tuy nhiên ba người đã thiệt mạng.

– Black Saturday (2009): 173 người chết và 450.000 ha rừng bị cháy

– Canberra (2003): 4 người chết và 160.000 ha rừng bị cháy

– Black Christmas (2001): 753.314 ha rừng bị cháy

– Ash Wednesday (1983): 75 người chết và 310.000 ha rừng bị cháy

– Black Friday (1939): 71 người chết và 2 triệu ha rừng bị cháy

– Black Thursday (1851): 12 người chết và 5 triệu ha rừng bị cháy

Bọ gấu nước cũng sẽ chịu ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù chúng gần như bất tử

Biến đổi khí hậu là có thật: Đến sinh vật “bất tử” duy nhất trên Trái đất cũng đang bị ảnh hưởng nên đừng chối bỏ nữa

Một sinh vật có thể chịu đựng được những môi trường khắc nghiệt nhất thế giới, nhưng tiếp xúc với nhiệt độ cao trong thời gian dài thì khác.

Dù “bất tử” vẫn đang là giấc mơ của loài người, nhưng trên Trái đất này thực ra có một sinh vật tiệm cận được đến điều đó. Đó là tardigrade, còn gọi là bọ gấu nước.

Bọ gấu nước gần như không thể bị hủy hoại. Chúng sống được ở mọi môi trường, từ đáy đại dương đến đỉnh Everest. Dù có bị “luộc” trong nước sôi 150 độ, hay bị đóng băng ở “độ 0 tuyệt đối”, chúng vẫn sống. Thậm chí vứt chúng ra ngoài vũ trụ – nơi có thể giết chết con người trong vòng 1 phút, chúng vẫn cứ thoải mái… đẻ con, không vấn đề gì.

Nêu vậy để thấy sức chống chịu của bọ gấu nước là đỉnh cao thế nào. Nhưng theo một nghiên cứu mới đây, chính những sinh vật tưởng như bất tử này đang bị ảnh hưởng nghiêm trọng sau một thời gian dài chịu đựng nhiệt độ toàn cầu gia tăng vì biến đổi khí hậu. 

Để hiểu được câu chuyện này, chúng ta cần biết cơ chế “bất tử” của bọ gấu nước. Loài vật này khi đối mặt với môi trường khắc nghiệt sẽ chuyển sang dạng Cryptobiosis – cơ chế cho phép hệ tuần hoàn và chuyển hóa tối giản toàn bộ, cơ thể gần như khô đét lại. Trong trạng thái này, chúng có thể chịu đựng được môi trường ít oxy, độc tố cao… rồi đợi đến lúc thích hợp mới hồi sinh trở lại.

Tuy nhiên, việc tiếp xúc với nhiệt độ cao liên tục trong thời gian dài có thể chính là điểm yếu của loài vật này. Quả thật chúng có thể chịu đựng nhiệt độ lên tới 151°C tới hơn 30 phút, nhưng việc tiếp xúc với nhiệt độ hơn 80°C trong thời gian dài hơn sẽ khiến chúng dễ chết hơn rất nhiều. 

Bọ gấu nước cũng sẽ chịu ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù chúng gần như bất tử
Bọ gấu nước cũng sẽ chịu ảnh hưởng từ biến đổi khí hậu, dù chúng gần như bất tử

Giờ đến nghiên cứu mới! Các chuyên gia từ ĐH Copenhagen (Đan Mạch) đã thử đánh giá khả năng chịu đựng nhiệt độ của một số mẫu bọ gấu nước. Theo đó, các mẫu bọ vốn đang quen ở môi trường ẩm ướt, khi gặp nhiệt độ cao sẽ tạm chuyển sang trạng thái “ngủ” giống như lúc nước khan hiếm. Trong trạng thái này, chúng có thể chịu đựng được nhiệt độ cao hơn bình thường, nhưng lại nhạy cảm hơn về mặt thời gian. 

“Chúng ta có thể kết luận những con bọ gấu nước trong trạng thái bình thường nhạy cảm với nhiệt độ cao, dù chúng vẫn có khả năng thích nghi để tăng ngưỡng chịu đựng. Những con bọ trong trạng thái “ngủ” thì chịu đựng tốt hơn, nhưng thời gian tiếp xúc sẽ làm giảm khả năng ấy đi,” – trích lời Ricardo Neves, tác giả nghiên cứu.

“Cấu tạo gene cho phép bọ gấu nước tồn tại được ở những môi trường khắc nghiệt nhất, thậm chí tồn tại được cả trên Mặt trăng, nhưng nhiệt độ cao sẽ khiến chúng khó làm được điều đó hơn, nhất là khi chúng không đủ thời gian để thích nghi với môi trường mới.”

“Trái đất nóng lên đã gây ra nhiều hiệu ứng xấu cho nhiều môi trường sống trên thế giới, vậy nên chúng ta cần phải tìm hiểu xem nhiệt độ gây ảnh hưởng như thế nào với cuộc sống của các loài vật.”

Nghiên cứu được công bố trên tạp chí Scientific Report.

Tham khảo: IFL Science