Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: 5 xu thế chính

Khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương

Khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương: 5 xu thế chính

TGVN. Trong bức tranh tổng thể của đời sống chính trị quốc tế, năm xu thế chính đang nổi lên với gam màu khác nhau, tác động và chi phối mạnh mẽ đến an ninh khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương những năm vừa qua và trong tương lai gần.


Khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương

Căng thẳng Mỹ – Trung lên tầng nấc mới

Với tầm quan trọng đặc biệt về mặt chính trị, kinh tế và chiến lược, khu vực Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương đã và đang là trọng tâm chính sách của nhiều quốc gia và thể chế khu vực, bao gồm các nước vừa và nhỏ của ASEAN, trong đó có Việt Nam. Dưới những tác động ngày càng phức tạp của môi trường bên ngoài, các nước trong khu vực có xu hướng hoạch định chính sách với nhiều sắc thái hơn, chủ yếu theo hướng giảm sự phụ thuộc vào các cường quốc, đồng thời xây dựng năng lực nội bộ nhằm thích ứng với sự thay đổi.

Tranh giành ảnh hưởng giữa các cường quốc trên thế giới trở nên gay gắt hơn, nổi bật là cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng. Theo bảng xếp hạng năm mức độ quan hệ (Hợp tác; Hợp tác và cạnh tranh; Hợp tác ít hơn Cạnh tranh nhiều hơn; Đối thủ; Kẻ thù), nếu như trước kia, quan hệ Mỹ – Trung được đan xen bởi hai yếu tố hợp tác và cạnh tranh, thì ngày nay, sự cạnh tranh ngày càng mở rộng giữa hai nền kinh tế lớn nhất hành tinh có lẽ đã đạt đến tầng nấc thứ 4 – Đối thủ.

Về công khai, Mỹ và Trung Quốc đều tuyên bố hai nước không phải là kẻ thù, cũng chẳng phải địch thủ. Một mặt, hai siêu cường đã không còn xem nhau là đối tác như thời chính quyền của Tổng thống Mỹ Barack Obama. Mặt khác, thuật ngữ “đối thủ” có thể được hiểu theo hàm nghĩa, mặc dù sự cạnh tranh ở thời điểm hiện tại vượt xa hợp tác song phương, song khả năng thỏa hiệp không hoàn toàn bị loại trừ.

Lý do cho tiềm năng và kỳ vọng hợp tác Mỹ – Trung khá đơn giản: lợi ích chung phát sinh từ sự phụ thuộc lẫn nhau về kinh tế và các mối đe dọa xuyên biên giới như khủng bố, phổ biến vũ khí hủy diệt hàng loạt và an ninh mạng. Theo đó, cạnh tranh Washington – Bắc Kinh đã tác động không nhỏ tới cục diện khu vực, đóng vai trò đáng kể trong quá trình cân nhắc của các nước về chiến lược an ninh quốc gia.

Bưới lùi của toàn cầu hóa

Toàn cầu hóa, nhân tố từng được coi là tất yếu và không thể đảo ngược của hệ thống quốc tế, đã gặp phải những nghi vấn và có bước lùi trong năm qua. Trong bối cảnh thương mại tự do – nét đặc trưng của toàn cầu hóa, không còn được coi là điều hiển nhiên, ngày càng nhiều câu hỏi được đặt ra về năng lực hình thành các thỏa thuận mới cùng khả năng quản lý và giải quyết tranh chấp của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), vốn nhận được không ít kỳ vọng của cộng đồng quốc tế.

Theo Robert Lighthizer – nhà đàm phán thương mại kỳ cựu của Tổng thống Trump, một số quốc gia như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản đang phải đáp ứng yêu cầu của Mỹ về hệ thống thương mại đối ứng tự do và công bằng. Sự hoài nghi về trật tự thương mại công bằng đang dần được hé mở trong bối cảnh các phong trào chống toàn cầu hóa đang gia tăng, xuất phát từ sự chênh lệch thu nhập, bất công bằng xã hội và tư tưởng dân tộc. Mặc dù một số khía cạnh của toàn cầu hóa như Internet và khả năng di động của con người vẫn còn đó, nhưng giờ đây, “bức tường lửa kỹ thuật số” và “bức tường thép” khổng lồ đã và đang lần lượt được xây dựng ở Trung Quốc và Mỹ.

Kỷ nguyên 4.0 lên ngôi

Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đang lan tỏa khắp các châu lục với những thực thể mới như Internet vạn vật, blockchain, dữ liệu lớn và trí tuệ nhân tạo. Giống như hầu hết các cuộc cách mạng trong lịch sử, cuộc cách mạng lần này cũng tác động đến mọi ngõ ngách của hành tinh. Điều này được cho là sẽ có lợi cho các quốc gia tiên tiến như Nhật Bản, Australia và Hàn Quốc. Một số quốc gia như Malaysia và Singapore nhiều khả năng nhận được kết quả “hỗn hợp”, trong khi các nước như Lào và Timor Leste có thể đối mặt với nguy cơ bị tụt lại phía sau.

Một vấn đề nghiêm trọng khác nổi lên từ cuộc cách mạng này là sự phân chia kỹ thuật số. Nếu như trước kia, khoảng cách công nghệ giữa các quốc gia là chủ đề được đề cập chủ yếu, thì giờ đây, sự phân chia này lại nằm trong phạm vi bức màn công nghệ có khả năng phân ly các quốc gia thành các hệ sinh thái công nghệ khác nhau.

Tinh thần “đa phương” trước phép thử mới

Dân chủ hóa quan hệ quốc tế – xu hướng từng được coi là đầy hứa hẹn sau khi Chiến tranh Lạnh kết thúc, đang bị kiềm chế bởi sự trở lại của chính trị quyền lực và khuynh hướng bá quyền. Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc là một ví dụ điển hình. Trong quá khứ, đây từng là nơi chứng kiến sự chia rẽ và bế tắc trong quan hệ chủ yếu giữa Mỹ, Nga và Trung Quốc, nhưng ngày nay, mâu thuẫn dường như đã nảy sinh giữa bất kỳ cặp quốc gia nào.

Một con đường dẫn đến dân chủ hóa là chủ nghĩa đa phương. Mặc dù tinh thần của chủ nghĩa đa phương chưa dập tắt, một số thể chế đa phương đã và đang phải chịu tác động mạnh mẽ bởi kế hoạch của các cường quốc, như Chiến lược Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương của Mỹ, hay Sáng kiến Vành đai và Con đường của Trung Quốc. Cho đến nay, các sáng kiến này đang đặt ra nhiều câu hỏi, thay vì đưa ra câu trả lời cho nhu cầu kinh tế và an ninh của các quốc gia trong phạm vi ảnh hưởng.

Ngoài ra, xu hướng ưu thích chủ nghĩa song phương và chủ nghĩa đơn phương của các cường quốc đang ngày càng lớn mạnh. Ví dụ cho xu thế này là việc Mỹ rút khỏi các cam kết đa phương như UNESCO và INF, hay Trung Quốc tiếp tục chối bỏ các phán quyết của Tòa trọng tài thường trực trong vụ kiện của Philippines năm 2016.

Tác động đa diện của thách thức an ninh

Những thách thức an ninh đương đại truyền thống và phi truyền thống hiện nay đòi hỏi các quốc gia đầu tư nhiều nguồn lực hơn để giải quyết. Sẽ không có giải pháp lâu dài nào cho những điểm nóng an ninh khu vực như Bán đảo Triều Tiên, Biển Hoa Đông, Biển Đông, tranh chấp biên giới Ấn Độ – Trung Quốc và quan hệ hai bờ eo biển Đài Loan nếu không có sự nỗ lực từ nhiều phía.

Bên cạnh đó, tội phạm mạng – đối tượng gây thiệt hại hàng trăm tỷ USD mỗi năm, an ninh nguồn nước trong lưu vực sông Mekong ảnh hưởng không nhỏ tới các quốc gia hạ nguồn như Campuchia, Lào, Thái Lan và Việt Nam cùng với biến đổi khí hậu là những mối đe dọa ngày càng nghiêm trọng. Trong khi đó, chủ nghĩa khủng bố, chủ nghĩa cực đoan và chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi tiếp tục đặt ra những thách thức nghiêm trọng đối với khu vực.

Tất cả những xu hướng này đặt các nước trong khu vực vào tình trạng buộc phải thay đổi và điều chỉnh chiến lược an ninh của mình, thậm chí là cả những cường quốc hàng đầu thế giới.

Việc hai cường quốc Mỹ và Trung Quốc “va chạm” nhau trên nhiều khía cạnh và sử dụng các biện pháp “ăn miếng trả miếng” là xưa nay chưa từng có, cùng một số tác nhân như quy mô cạnh tranh ngày càng lan rộng, “thiên nga đen” và rủi ro kinh tế, tính khó lường trong hệ thống quốc tế được đánh giá là đang tăng lên, mặc dù những thông tin và dữ liệu khoa học hiện nay đang dồi dào hơn trước.

Đáng chú ý là các xu hướng khu vực phải đối mặt trong thời gian tới không khác biệt hoàn toàn so với trước đây, song một số xu thế đang trở nên rõ nét hơn, bao gồm sự cạnh tranh nổi trội gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, tác động nhanh hơn và sâu rộng hơn của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đối với các khía cạnh khác nhau của cuộc sống.

Nhằm đối phó với thực trạng hỗn loạn và phức tạp của hệ thống quốc tế, nhiều nước lựa chọn tăng cường hợp tác và phối hợp với nhau nhiều hơn để giảm sự phụ thuộc quá mức vào một trong hai cường quốc.

Thương chiến Mỹ - Trung

Thương chiến Mỹ – Trung và cạnh tranh nước lớn

TGVN. Nếu như sự trỗi dậy của Trung Quốc lâu nay được xem như diễn biến quan trọng nhất trong thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh thì cuộc chiến tranh thương mại giữa Mỹ và Trung Quốc có lẽ là sự kiện quốc tế nổi bật nhất trong vòng hai năm qua. 


Thương chiến Mỹ - Trung

Không phải thương chiến thông thường

Bất chấp sự lệ thuộc lẫn nhau rất lớn về mặt kinh tế giữa hai bên, nước Mỹ dưới chính quyền Trump vẫn quyết định phát động một cuộc chiến tranh thương mại nhằm vào Trung Quốc.

Nếu chỉ nhìn vào các phát ngôn của Tổng thống Trump sẽ dễ lầm tưởng rằng đây chỉ là một cuộc xung đột thương mại thuần tuý nhằm điều chỉnh lại cán cân thương mại Mỹ – Trung. Việc áp thuế bổ sung lên hàng hoá Trung Quốc và gây sức ép lên Huawei thoạt qua tưởng chừng chỉ là các biện pháp để ép Trung Quốc điều chỉnh chính sách tiền tệ và thương mại theo chiều hướng có lợi cho Mỹ.

Song nếu xét một cách toàn diện hơn thì đây không chỉ là một cuộc chiến thương mại thông thường. Bản Chiến lược an ninh quốc gia gần đây nhất do chính quyền Trump công bố đã chỉ đích danh Trung Quốc như một trong các đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ. Hơn nữa, các chiến lược như xoay trục về châu Á hay Ấn Độ Dương – Thái Bình Dương tự do và rộng mở (IPS) đều cho thấy rõ ý đồ kiềm chế Trung Quốc của Mỹ.

Do đó, dù ông Trump có chủ đích phát động chiến tranh thương mại để khiến Trung Quốc suy yếu hay không thì cuộc thương chiến hiện nay cũng đã vô tình trở thành một mặt trận trong cuộc cạnh tranh chiến lược rộng hơn giữa hai siêu cường hàng đầu thế giới này.

Việc hai bên mới đây tuyên bố đạt được một thoả thuận “đình chiến” thương mại không đồng nghĩa với việc cuộc chiến này sẽ sớm kết thúc hoặc quan hệ Mỹ – Trung sẽ trở về quỹ đạo bình thường như trước đây. Thương chiến hiện nay có thể chỉ là cuộc chiến của riêng ông Trump và một nhóm nhỏ trong giới cầm quyền ở Washington hiện nay nhưng sở dĩ ông Trump nhận được sự ủng hộ mạnh mẽ để thi hành đường lối đối ngoại cứng rắn với Trung Quốc là bởi đại bộ phận giới tinh hoa Mỹ đã quay lưng lại với chính sách can dự mềm mỏng mà Mỹ đã theo đuổi suốt nhiều thập kỷ qua để ứng phó với sự trỗi dậy của Trung Quốc.

Sự thất bại của chính sách can dự

Kể từ khi cặp đôi Nixon – Kissinger bắt đầu tiến trình bình thường hoá quan hệ với Trung Quốc vào đầu những năm 1970 cho tới đầu những năm 2000, Mỹ về cơ bản đã chọn đánh cược “tất tay” vào chính sách can dự mềm mỏng nhằm thu phục Trung Quốc và ngăn nước này trở thành kình địch.

Chính sách can dự này được xây dựng chủ yếu dựa trên một giả thiết duy nhất, đó là nếu Mỹ giúp Trung Quốc phát triển kinh tế và hội nhập sâu rộng vào hệ thống quốc tế thì đất nước này sẽ từng bước mở cửa và dân chủ hoá. Giới lãnh đạo ở Washington tin rằng nếu Trung Quốc giàu có, họ sẽ có một tầng lớp trung lưu giàu mạnh và có tiếng nói, khi có một tầng lớp trung lưu như vậy, Trung Quốc sẽ cải tổ và dân chủ hoá về mặt chính trị.

Họ đánh cược rằng một nước Trung Quốc dân chủ sẽ thân Mỹ chứ không chống Mỹ và vì vậy, Mỹ cần mềm mỏng thay vì đối xử với Trung Quốc như một kẻ thù, bởi khi đó Trung Quốc sẽ phản kháng mạnh mẽ và coi Mỹ như một kẻ thù.

Đáng tiếc rằng bốn thập niên vừa qua dường như chứng minh rằng chính sách can dự của Mỹ đã thất bại. Trung Quốc không những không dân chủ hoá như Mỹ mong đợi mà còn ngày trở nên xác quyết hơn trên chính trường quốc tế. Trung Quốc không tìm cách lật đổ hệ thống quốc tế hiện nay do Mỹ và các đồng minh đã dày công gây dựng nên nhưng tận dụng mọi kẽ hở để nâng cao vị thế và sức mạnh quốc gia, đồng thời làm suy yếu sức ảnh hưởng của Mỹ ở khu vực châu Á.

Không những vậy, trong những vấn đề như tranh chấp Biển Đông, Trung Quốc cho thấy rằng mình sẵn sàng sử dụng đe doạ vũ lực và cưỡng ép để thay đổi hiện trạng lãnh thổ và thúc đẩy yêu sách chủ quyền của mình. Đây chắc chắn không phải là kết quả mà người Mỹ kỳ vọng khi đưa Trung Quốc vào WTO và giúp nền kinh tế Trung Quốc “cất cánh”.

Chiến tranh Lạnh 2.0

Với tình thế hiện nay, liệu Mỹ và Trung Quốc có bước vào một cuộc “Chiến tranh Lạnh 2.0” hay không? Những người tin rằng cuộc cạnh tranh Mỹ – Trung hiện nay là một sự “va chạm giữa các nền văn minh”, có lẽ sẽ cho rằng một cuộc cạnh tranh chiến lược toàn diện và lâu dài giữa hai cường quốc này là khó tránh khỏi.Chiến tranh Lạnh 2.0?

Tuy nhiên, lịch sử cho thấy văn hoá hay sắc tộc chưa bao giờ là yếu tố quyết định hai nước lớn có đối đầu với nhau hay không. Trong hàng trăm năm, các cường quốc châu Âu vẫn liên tục đối đầu, thậm chí giao chiến với nhau để tranh giành quyền lực. Trong khi đó, Mỹ có quan hệ đồng minh và đối tác hữu hảo với các nước lớn nhỏ từ Trung Đông cho tới Đông Á.

Tác nhân hàng đầu gây ra xung đột giữa các nước lớn là tham vọng quyền lực chứ không phải sự khác biệt giữa hai nền văn minh. Nếu cả Mỹ và Trung Quốc đều muốn trở thành độc bá ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương thì dù người Mỹ và người Trung Quốc có văn hoá và hệ tư tưởng giống hệt nhau đi nữa thì ngày nào cả hai còn đủ mạnh, ngày đó hai nước còn cạnh tranh.

Một yếu tố quan trọng không kém khác là sự hiện diện của một hệ tư tưởng có tính phổ quát. Mỹ và Liên Xô đối đầu trong một thời gian dài không chỉ bởi sự xung đột về lợi ích mà còn bởi cả hai đều muốn “xuất khẩu” mô hình phát triển và ý thức hệ của mình đi khắp thế giới. Hai siêu cường này không những muốn các nước còn lại ủng hộ mình mà còn muốn họ xây dựng hệ thống chính trị – xã hội theo sự sắp đặt của mình. Đó là một nguyên nhân quan trọng khiến cho hai bên khó tìm được lối thoát một khi đã bước vào cuộc cạnh tranh.

Trong tình thế hiện nay, Trung Quốc chưa có một hệ tư tưởng mang tính phổ quát như Liên Xô trước đây và tuy họ đã manh nha tìm cách phổ biến mô hình phát triển của mình, song những nỗ lực này mới chủ yếu dừng ở việc khuyếch trương các thành tựu mà họ đã đạt được, thay vì can thiệp thô bạo và ép các nước xung quanh phải đi theo mô hình của mình. Chính bởi Trung Quốc tại thời điểm này vẫn tập trung vào việc phát triển nội lực hơn là đi “truyền đạo” nên vẫn có khả năng hai siêu cường Mỹ – Trung có thể thoát ra khỏi vòng xoáy cạnh tranh cường quyền hiện nay.

Cuối cùng, có lẽ ẩn số lớn nhất trong vấn đề hiện nay đó là cách các nhà lãnh đạo hai bên xử lý các cuộc khủng hoảng bất ngờ nổ ra. Tuy Mỹ và Liên Xô có nhiều xung đột về lợi ích chiến lược ở tầm vĩ mô nhưng khó có thể nói được điều gì sẽ xảy ra nếu như họ đã giải quyết được những vấn đề như nước Đức hậu Thế chiến hay dàn xếp vấn đề Berlin một cách ổn thoả hơn.

Có thể Chiến tranh Lạnh vẫn xảy ra nhưng có kéo dài đến như vậy và có gay gắt đến như vậy không là rất khó để trả lời. Tương tự như vậy, có vô vàn vấn đề có thể bất ngờ ập đến làm đảo lộn quan hệ Mỹ – Trung. Hàn Quốc có thể rút ra khỏi liên minh Mỹ – Hàn, Đài Loan có thể tuyên bố độc lập khỏi đại lục…

Tất cả những vấn đề này tuy không thể một mình quyết định xem quan hệ Mỹ – Trung sẽ ra sao song cách các lãnh đạo Mỹ – Trung giải quyết từng cuộc khủng hoảng sẽ ảnh hưởng rất đáng kể tới lòng tin chiến lược giữa hai bên và về lâu dài, quyết định hai nước sẽ xem nhau là kẻ thù không đội trời chung hay những siêu cường vừa có lợi ích song trùng, vừa có mâu thuẫn lợi ích.

EU kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp JCPOA với Iran

EU kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp JCPOA với Iran: Mềm không được, cứng có xong?

TGVN. Sau thời gian nhường nhịn, động thái cứng rắn của Liên minh châu Âu (EU) liệu có buộc Iran quay trở lại Kế hoạch Hành động chung Toàn diện (JCPOA)?

EU kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp JCPOA với Iran

Ngay sau đó, Iran đã cảnh cáo quốc gia châu Âu về hành động này, cho rằng việc sử dụng không đúng mục đích cơ chế giải quyết tranh chấp sẽ đối mặt với “phản ứng nghiêm trọng và mạnh mẽ”.Ngày 14/1, Anh, Pháp và Đức đã kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp được ghi rõ trong JCPOA, theo đó chỉ sau hai tháng, Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc được quyền tái áp đặt lệnh trừng phạt lên nền kinh tế Iran, hệ thống ngân hàng và một số quan chức cấp cao. Tuy nhiên, người châu Âu hoàn toàn có thể trì hoãn và kéo dài tiến trình này một khi có thiện chí từ Iran. Các ông lớn trong EU khẳng định họ tiếp tục tuân thủ và mong muốn cứu vãn JCPOA, trong bối cảnh Iran tuyên bố chính thức rút khỏi JCPOA cuối tháng 12/2019.

Thái độ quyết liệt của phía EU cho thấy sự tương phản rõ rệt với chủ trương mềm mỏng, sẵn sàng nhượng bộ trước đó trong vấn đề Iran, nhằm giữ quốc gia Trung Đông ở lại trong JCPOA. Tuy nhiên, liệu thay đổi này có mang lại hiệu quả cần thiết? Kết quả sẽ phụ thuộc vào ba yếu tố sau.

Lùi để tiến

Thứ nhất, đó là kết quả tranh đấu giữa phe chủ hòa và phe chủ chiến tại Iran về giải quyết căng thẳng với Mỹ. Câu trả lời của phe chủ chiến, đứng đầu là Lãnh tụ Tối cao Ali Khamenei và Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) đã rõ qua ba cuộc tấn công căn cứ có lính Mỹ tại Iraq trong hai tuần.

EU Joseph Borel
Cao ủy phụ trách các vấn đề đối ngoại của EU Joseph Borell tại Nghị viện châu Âu ngày 14/1 sau cuộc họp công bố kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp trong JCPOA với Iran. (Nguồn: AP)

Ngược lại, phe chủ hòa mong muốn tận dụng áp lực của cộng đồng quốc tế và biện pháp ngoại giao để giải quyết tranh chấp căng thẳng với Mỹ. Phần nhiều bài phát biểu của Ngoại trưởng Iran Mohammad Javad Zarif, nhân vật chủ chốt của phe này, tại Đối thoại Raisina ở Ấn Độ ngày 15/1 là dành cho EU. Ông Zarif nhấn mạnh JCPOA là thỏa thuận tốt nhất có thể hình dung được và “sẵn sàng đảo ngược động thái trước đó nếu EU tuân thủ cam kết”. Ngoài ra, ông khẳng định muốn giải quyết căng thẳng thông qua các biện pháp ngoại giao, dù không muốn đàm phán với Mỹ ở thời điểm hiện tại. Đây là cách ông Zarif đánh tiếng với khối P5+1, đặc biệt là Anh, Pháp và Đức.

Nếu Tehran muốn tranh thủ áp lực của cộng đồng quốc tế trong giải quyết căng thẳng với Mỹ, nước này cần tuân thủ luật pháp và các hiệp ước quốc tế đã ký, trong đó có JCPOA. Khi đó, ngồi lại với EU, bàn thảo về điều kiện trở lại JCPOA là hợp lý. Tuy nhiên, với phe chủ chiến, điều này chẳng khác nào nói rằng Iran nhượng bộ trước cấm vận, khiến người dân đặt câu hỏi về chính sách cứng rắn với Mỹ, trọng tâm chính sách đối ngoại từ khi thành lập nền Cộng hòa Hồi giáo. Tranh đấu giữa phe chủ hòa, chủ chiến tại Iran vì thế sẽ quyết định kết quả thay đổi cách tiếp cận từ EU.

Tại người, tại mình

Thứ hai, đó là thái độ của các ông lớn còn lại trong P5+1, đặc biệt là Mỹ. Sau động thái trên, Bộ Ngoại giao Mỹ đã lên tiếng ủng hộ đề xuất kích hoạt cơ chế giải quyết tranh chấp: “Chúng tôi tin rằng áp lực về kinh tế và ngoại giao cần được các quốc gia thực hiện. Thế giới văn minh cần gửi một thông điệp rõ ràng, thống nhất về chế độ Iran: Chiến dịch khủng bố, sát hại, hỗn loạn sẽ không được dung thứ nữa”. Nga thì cho rằng bước đi của EU có thể khiến căng thẳng leo thang theo chiều hướng xấu. Trung Quốc chưa có phản ứng cụ thể, song lập trường của Bắc Kinh từ trước đến nay vẫn thiên về gìn giữ JCPOA nhằm đảm bảo lợi ích về nguồn năng lượng nhập khẩu từ Tehran.

Khi liều lượng quyết định chất lượng

Thứ ba, kết quả của thay đổi chính sách này sẽ phụ thuộc vào chính EU. Cả Anh, Pháp và Đức đều tin rằng cách duy nhất để Iran không phát triển vũ khí hạt nhân là thông qua JCPOA. Biện pháp dù mềm hay cứng đều nhằm thực hiện mục tiêu này, song triển khai ra sao là không đơn giản. Lịch sử cho thấy EU không có duyên với cấm vận. Một mặt, EU tiếp tục gia hạn trừng phạt và cấm vận đối với Nga tới cuối tháng 7/2020. Mặt khác, quan hệ Nga – Đức, thành viên trụ cột của EU, đang ấm dần lên, thể hiện rõ qua chuyến thăm ít có tiền lệ của Thủ tướng Angela Merkel tới Nga và hợp tác trong dự án đường ống dẫn khí đốt Nordstream-2. Cấm vận Nga là chủ trương của EU, song lợi ích từ Nga lại quá hấp dẫn. Khi ấy, thay đổi cách tiếp cận rắn hơn với Iran là nước cờ thú vị từ EU, song “cứng” đến đâu để không kích động phe chủ chiến ở Iran, “mềm” thế nào để tránh bị Tehran lấn lướt sẽ là bài toán khó cho các nước châu Âu.

Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov

Ngoại trưởng Nga thăm Ấn Độ: Nối tình riêng, lo chuyện chung

TGVN. Chuyến thăm của Ngoại trưởng Nga tới Ấn Độ từ ngày 15 – 16/1 sẽ tập trung vào tìm kiếm giải pháp thúc đẩy quan hệ song phương và căng thẳng Mỹ – Iran. Bình luận của Thế giới & Việt Nam.

Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov
Ngoại trưởng Nga Sergey Lavrov phát biểu tại Đối thoại Raisina tại New Delhi, Ấn Độ ngày 15/1 (Nguồn: TASS)

Đầu tiên, ông Sergey Lavrov đặt chân tới New Delhi trong bối cảnh tình hình thế giới, khu vực, đặc biệt là căng thẳng Mỹ – Iran diễn biến phức tạp. Sau khi Washington sát hại Thiếu tướng Lực lượng Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) Qassem Soleimani trên đất Iraq hôm 3/1, Tehran đã tấn công, trực tiếp và gián tiếp, ba lần vào căn cứ đồn trú lính Mỹ tại Iraq ở Erbil, Taji và Al Balad trong chưa đầy hai tuần; căng thẳng song phương nhiều khả năng kéo dài và quyết liệt hơn.

Tiêu điểm chuyến thăm lần này của ông Sergey Lavrov là tham dự và phát biểu tại Đối thoại Raisina ở Delhi, nơi quy tụ nhiều quan chức cấp cao nhiều nước, trong đó có Ngoại trưởng Iran Mohammed Javad Zarif và Phó Trợ lý Ngoại trưởng Mỹ Alice Wells. Iran đang là tâm điểm của cộng đồng quốc tế và phát biểu của Ngoại trưởng Mohammad Javad Zarif tại Đối thoại Raisina được chú ý hơn cả.

Ông khẳng định tình hình khu vực đang “rất nguy hiểm”; Kế hoạch Hành động chung Toàn diện (JCPOA) là thỏa thuận tốt nhất có thể hình dung được; tố cáo “những con người ngạo mạn đã khơi mào bất ổn”; cho biết “sẵn sàng đảo ngược những động thái trước đó nếu EU tuân thủ cam kết”.

Quan trọng hơn, cả ông Zarif và ông Lavrov đã hội đàm với người đồng cấp nước chủ nhà Subrahmanyam Jaishankar, song chưa rõ liệu Ngoại trưởng Nga và Iran có hội đàm không. Tại Đối thoại Raisina, ông Zarif thể hiện thiện chí giải quyết căng thẳng bằng ngoại giao, song chưa muốn đàm phán với Mỹ; như vậy, Ngoại trưởng Iran “đánh tiếng” sẵn lòng đối thoại với đối tác khác và trong đó chắc chắn có Nga, Liên minh châu Âu (EU), Trung Quốc, Nhật Bản và thậm chí là Ấn Độ. Nếu Đối thoại Raisina trở thành nơi khởi đầu của một tiến trình hòa giải có sự góp mặt của Ấn Độ, điều này sẽ tác động tích cực, nâng tầm vị thế của Đối thoại do New Delhi chủ trì.

Thứ hai, quan hệ Nga – Ấn Độ có nhiều bước tiến lớn trong thời gian qua, đặc biệt trong lĩnh vực an ninh và năng lượng nguyên tử. Tuy nhiên, quyết định phê chuẩn hợp đồng mua vũ khí hải quân trị giá 1 tỷ USD từ Washington của New Delhi khiến gặp gỡ song phương giữa hai Ngoại trưởng Nga và Ấn Độ gai góc hơn chút. Tuy nhiên, điều đó không thể cản Ngoại trưởng Nga nói những “lời có cánh” về Ấn Độ.

Tại Đối thoại Raisina, ông Sergey Lavrov cam kết thúc đẩy quan hệ Đối tác chiến lược với Ấn Độ, đồng thời cho rằng với tốc độ phát triển nhanh, vị thế quan trọng, Ấn Độ và Brazil “nên là thành viên thường trực của Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc”.

Thứ ba, Ngoại trưởng Nga và Ấn Độ đã thảo luận về mối quan tâm chung tại khu vực hiện nay, đặc biệt là quan hệ Trung Quốc – Ấn Độ – Pakistan. Thượng đỉnh không chính thức giữa Thủ tướng Ấn Độ Narendra Modi và Chủ tịch Trung Quốc Tập Cận Bình cho thấy quan hệ song phương, dù đã cải thiện, vẫn tồn tại bất đồng về lợi ích chiến lược.

Sau khi New Delhi bãi bỏ điều 370 về cơ chế tự trị của khu vực tranh chấp Jammu và Kashmir cuối tháng Mười, quan hệ Ấn Độ – Pakistan đã hạ nhiệt, song vẫn tiềm ẩn nhiều nguy cơ. Nga là quốc gia duy nhất trong Hội đồng Bảo an Liên hợp quốc ủng hộ công khai hành động “hợp hiến” của Ấn Độ; tin rằng Ấn Độ và Pakistan nên giải quyết tồn tại qua đối thoại, trên cơ sở thỏa thuận Simla, tuyên bố Lahore.

Đây là dịp để ông Lavrov khẳng định sự ủng hộ của Nga về chủ quyền của Ấn Độ với khu vực tranh chấp, củng cố quan hệ song phương, cùng giải quyết các vấn đề nóng của khu vực và thế giới.

ChientranhthuongmaiMyTrung

Bình luận. Mỹ – Trung Quốc: Được tiếng, thiếu miếng

TGVN. Thỏa thuận thương mại giai đoạn 1 giữa Mỹ – Trung Quốc có làm thay đổi xung khắc thương mại và xa hơn là cạnh tranh chiến lược giữa hai nước này? Bình luận của Báo Thế giới & Việt Nam. 

ChientranhthuongmaiMyTrung
ChientranhthuongmaiMyTrung

Sau 13 vòng đàm phán, Mỹ và Trung Quốc đạt được kết quả mà họ gọi là thoả thuận thương mại giai đoạn 1. Rồi mất thêm không ít thời gian nữa, hai bên mới ký kết chính thức thoả thuận này.

Điều lạ ở đây là cả hai bên đều không tỏ ra vội với việc chính thức ký kết thoả thuận, như thể không có nhu cầu cấp thiết làm cho thoả thuận này có hiệu lực chính thức nhanh chóng như có thể được. Xem ra, cái mà cả hai bên muốn có được nhất là tác động của việc đạt được thoả thuận thương mại này chứ không phải hiệu lực thực chất của chính thoả thuận ấy.

Thật ra, điều trên không đến nỗi khó hiểu. Lời giải thích đơn giản là thoả thuận thương mại giai đoạn 1 này không làm thay đổi cơ bản và đáng kể gì cả trong bản chất lẫn về mức độ cuộc xung khắc thương mại hiện tại giữa hai nước, càng chưa thể tác động được gì tới diễn biến tiếp theo đây của cuộc cạnh tranh chiến lược giữa Mỹ và Trung Quốc trên mọi phương diện.

Những gì mà Mỹ và Trung Quốc đã thoả thuận được với nhau mới chỉ là xử lý một vài biểu hiện lâm sàng của cuộc xung khắc thương mại, còn quá ít ỏi và không cơ bản, lại vẫn quá chung chung và không đi cùng những quy định để đảm bảo là những gì đã được thoả thuận thì rồi cũng sẽ được thực hiện đầy đủ và nghiêm chỉnh.

Hai bên hiện chỉ tập trung vào việc được tiếng là vẫn có thể thoả hiệp với nhau và đã thoả thuận được với nhau, tức là xung khắc thương mại và cạnh tranh chiến lược sẽ còn dai dẳng nhưng sẽ không bên nào hành động quá đà và đi quá giới hạn.

Cái mà Tổng thống Mỹ Donald Trump hiện muốn có được là gây dựng hình ảnh cứng rắn với Trung Quốc và đã buộc Trung Quốc phải nhượng bộ. Cái mà phía Trung Quốc cần là hoà hoãn và thời gian, không buộc được Mỹ lùi thì ngăn ngừa Mỹ dấn thêm.

Mỹ và Trung Quốc chỉ tạm ngừng chứ chưa hết chiến.

Nga với Mỹ - Iran

Bình luận. Nga với Mỹ – Iran: Khó người, dễ ta

TGVN. Trong đụng độ Mỹ – Iran, cái khó mới đối với Mỹ, đồng minh và cả Iran lại tạo ra tình thế mới cho Tổng thống Nga Putin quyền biến để đề cao vai trò, vị thế và ảnh hưởng. Bình luận của Thế giới & Việt Nam. 

Leo thang thù địch giữa Mỹ và Iran đã đẩy Tổng thống Nga Vladimir Putin và nước Nga vào tình thế khó xử, nhưng cũng thuận lợi.

Nga với Mỹ - Iran

“Có thể Nga không chờ đợi cơ hội như thế này, nhưng ông Putin hiện đang tận dụng nó”.

Xưa nay, Nga có mối quan hệ hợp tác tốt đẹp với Iran. Mỹ gia tăng thù địch như thế với Iran khiến Nga khó xử khi vừa duy trì sự ủng hộ Iran vừa phải lưu ý không để mối quan hệ giữa Nga với Mỹ bị ảnh hưởng tiêu cực. Chiến tranh giữa Mỹ và Iran sẽ rất bất lợi cho Nga trong việc thực hiện lợi ích chiến lược lâu dài cũng như trước mắt ở khu vực này.

Nhưng cái khó mới đối với Mỹ và đồng minh của Mỹ cũng như đối với Iran lại tạo ra tình thế mới cho ông Putin quyền biến để đề cao vai trò, ảnh hưởng và vị thế của Nga. Ông Putin bất ngờ tới Syria, rồi từ đó đến Thổ Nhĩ Kỳ. Ông Putin điện đàm với Tổng thống Pháp Emmanuel Macron và mời Thủ tướng Đức Angela Merkel sang Nga hội kiến. Cái “khó người, dễ ta” ở đây đối với ông Putin và nước Nga thể hiện trên bốn phương diện.

Thứ nhất, Iran càng bị Mỹ làm găng thì càng cần sự ủng hộ của Nga, càng phải coi trọng Nga và càng thúc đẩy mạnh mẽ quan hệ hợp tác với Nga.

Thứ hai, Mỹ càng lún sâu vào bất hoà và xung khắc với Iran thì càng phải tìm cách yên bề ở chiến địa khác trong khu vực mà đối với Nga quan trọng hơn cả là ở Syria. Nga và Thổ Nhĩ Kỳ, với cả sự tham gia của Iran nữa, càng rảnh tay xử lý chuyện chính trị an ninh hiện tại và tương lai chính trị của Syria.

Thứ ba, Nga được lợi nhiều khi Mỹ gặp nguy cơ bị đẩy ra khỏi Iraq và bất đồng quan điểm giữa Mỹ và đồng minh ở châu Âu thêm sâu sắc.

Thứ tư, Nga có được cơ hội gây dựng vai trò trung gian hoà giải giữa Mỹ và Iran cũng như kiến tạo hoà bình, an ninh và ổn định cho cả khu vực.

Có thể Nga không chờ đợi cơ hội như thế này, nhưng ông Putin hiện đang tận dụng nó.

Chính Dung